Cổng thông tin điện tử Sở Khoa học công nghệ tỉnh Sóc Trăng
 
 
 
Liên kết website
Skip portlet Portlet Menu
 
 
Hit counter
Lượt truy cập
0 3 2 2 2 8 4 7
 
 
 
 
 
Tin Khoa học Công nghệ
Phát triển ngành tôm tỉnh Sóc Trăng đến năm 2025
(15/10/2018)

Mục tiêu của tỉnh Sóc Trăng là phát triển ngành tôm là ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng bền vững, sản xuất sạch, ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm tôm.

Theo mục tiêu đề ra, giai đoạn 2018 - 2020, tổng sản lượng đến năm 2020 đạt 348.500 tấn; trong đó, sản lượng tôm nước lợ 134.630 tấn, tốc độ tăng trưởng sản lượng nuôi 11,9% (tôm nước lợ 9,39%). Sản lượng tôm nước lợ chế biến 86.700 tấn, sản lượng tôm xuất khẩu 65.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm nước lợ 750 triệu USD.


Đến giai đoạn 2021 - 2025, tổng sản lượng đến năm 2025 đạt 355.000 tấn; trong đó, sản lượng tôm nước lợ 163.270 tấn. Tốc độ tăng trưởng sản lượng nuôi 0,37% (tôm nước lợ 3,93%). Sản lượng tôm nước lợ chế biến 98.000 tấn, sản lượng tôm xuất khẩu 78.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm nước lợ 900 triệu USD.


Theo đó, tỉnh Sóc Trăng đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện để phát triển ngành tôm như sau:


Đối với tôm nước lợ nuôi siêu thâm canh, thâm canh và bán thâm canh:  Rà soát và xây dựng các vùng nuôi theo hướng công nghệ cao. Nhân rộng và phát triển mô hình nuôi tôm công nghệ cao, nuôi an toàn sinh học, nuôi 2 giai đoạn, để nâng cao năng suất, sản lượng, phát triển ổn định và bền vững.


Sản xuất giống tôm nước lợ chất lượng cao đạt 50% nhu cầu nuôi vào năm 2025.


Chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ, giải pháp kỹ thuật mới trong nuôi tôm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Ban hành hướng dẫn về nuôi tôm siêu thâm canh để định hướng người nuôi theo quy trình an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn đáp ứng thị trường xuất khẩu.


Đối với tôm nước lợ nuôi quảng canh cải tiến, tôm - lúa: Đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ các vùng sản xuất tôm quảng canh cải tiến (QCCT), với hệ thống ao lắng, ao nuôi và ao chứa thải hợp lý.


Duy trì và phát triển mô hình nuôi  luân canh Tôm QCCT - Lúa hướng tới các tiêu chuẩn VietGAP, ASC tại huyện Mỹ Xuyên và mở rộng sang địa phương có điều kiện phù hợp. Xây dựng thương hiệu “Lúa thơm - Tôm sạch” cho vùng tôm lúa Mỹ Xuyên.


Đối với tôm càng xanh: Rà soát và đầu tư hạ tầng vùng nuôi tôm càng xanh tập trung tại huyện Mỹ Xuyên, Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Kế Sách và thị xã Ngã Năm.


Tổ chức nuôi thương phẩm tôm càng xanh với năng suất và chất lượng ổn định, hiệu quả và bền vững (khoảng 500 ha năm 2020 và 1.000 ha năm 2025). Sản xuất cung ứng giống tôm càng xanh toàn đực đảm bảo chất lượng và đủ số lượng phục vụ nuôi thương phẩm vào năm 2020 và đến năm 2025.


Đối với chế biến, tiêu thụ các sản phẩm tôm: Tập trung đổi mới dây chuyền công nghệ của các nhà máy hiện có theo hướng hiện đại nhằm gia tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, nâng cao tỷ trọng sản phẩm chế biến. Đảm bảo duy trì các thị trường hiện tại và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng.


Tăng cường liên kết doanh nghiệp với nông dân tại các Hợp tác xã/Tổ hợp tác trong tiêu thụ tôm nguyên liệu. Đồng thời, hỗ trợ kinh phí cho các Hợp tác xã/Tổ hợp tác trong việc chứng nhận và tái chứng nhận các tiêu chuẩn thực hành nuôi tốt đáp ứng thị trường xuất khẩu.


Áp dụng các quy trình quản lý tiên tiến và công nghệ mới vào khâu thu hoạch, vận chuyển, bảo quản các loại sản phẩm tôm để tiết kiệm nhiên liệu, giảm giá thành sản phẩm. Quản lý, kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu mua tôm nguyên liệu; kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm, ngăn chặn hữu hiệu các hoạt động bơm tạp chất vào sản phẩm tôm.


Đối với phát triển các ngành nghề phụ trợ: Kêu gọi đầu tư 01 nhà máy chế biến thức ăn đảm bảo chất lượng và giảm chi phí sản xuất.


Tạo điều kiện cho các cơ sở chế biến, sản xuất, đầu tư kinh doanh các nguyên vật liệu phụ trợ cho ngành tôm phát triển, đặc biệt lĩnh vực nuôi tôm công nghệ cao. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị tôm để cung cấp dịch vụ đầu vào ổn định, bền vững và hiệu quả.

Nguyễn Phạm Thu Hiền

Tin đã đưa

Trang đầu Trang trước 12345678910 Trang sau Trang cuối
 
 
 

 
 
 
Hình ảnh hoạt động
Skip portlet Portlet Menu
 
Chuyên mục KHCN
Skip portlet Portlet Menu